Hoà giải viên ở cơ sở là công dân Việt Nam thường trú tại thôn, tổ dân phố, tự nguyện tham gia, có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong cộng đồng, có khả năng thuyết phục và hiểu biết pháp luật; họ được bầu ở cộng đồng dân cư và được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, đặc khu ra quyết định công nhận theo Luật Hoà giải ở cơ sở 2013. Đây không phải chức vụ hưởng lương, nhưng có quyền được tập huấn, được hỗ trợ thù lao theo vụ việc và được bảo vệ khi gặp rủi ro trong lúc làm nhiệm vụ.
Bài này dành cho người đang được hàng xóm gợi ý ra làm hoà giải viên, người mới được bầu, hoặc đơn giản là người muốn hiểu người đứng giữa trong các vụ hoà giải ở xóm mình là ai. Chi tiết về thù lao, mức hỗ trợ được quy định trong văn bản hướng dẫn và nghị quyết của từng tỉnh, bạn nên hỏi công chức tư pháp ở xã, phường.
Tiêu chuẩn để làm hoà giải viên
Luật Hoà giải ở cơ sở 2013 đặt ra các tiêu chuẩn sau, nhìn qua thì đơn giản nhưng mỗi ý đều có lý do:
- Công dân Việt Nam thường trú ở cơ sở: hoà giải viên phải là người sống trong cộng đồng, hiểu phong tục, quan hệ, lịch sử của thôn, tổ dân phố.
- Tự nguyện tham gia: công việc đòi hỏi thời gian, kiên nhẫn, có khi bị một bên trách; người bị ép làm thường bỏ dở.
- Phẩm chất đạo đức tốt, nhiệt tình, có trách nhiệm: các bên chỉ mở lòng với người họ tin là ngay thẳng.
- Có uy tín trong cộng đồng dân cư: uy tín là thứ quyền lực duy nhất hoà giải viên có, vì họ không có quyền xử phạt hay quyết định.
- Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân: biết lắng nghe, biết đặt câu hỏi, biết nói để người khác nghe.
- Có hiểu biết pháp luật: không cần bằng cấp luật, nhưng phải đủ để giải thích quy định liên quan đến những việc hay gặp: đất đai, hôn nhân gia đình, vay mượn, lối đi, môi trường sống.
Những người hay được giới thiệu là cán bộ đã nghỉ hưu, người làm trong các hội đoàn ở thôn, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong dòng họ, và những người trẻ hơn có hiểu biết pháp luật, có thời gian. Thành phần đa dạng giúp tổ hoà giải xử lý được nhiều loại việc.
Từ được giới thiệu đến được công nhận
Quy trình bầu hoà giải viên được luật quy định khá cụ thể. Ở mức phổ thông, có thể hình dung các bước như sau:
- Trưởng ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố chủ trì, phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng dân phố lựa chọn, giới thiệu người đủ tiêu chuẩn. Bạn có thể bày tỏ mong muốn tham gia với những người này để được xem xét.
- Việc bầu được tổ chức ở cộng đồng dân cư, theo các hình thức luật cho phép như biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện hộ gia đình, hoặc phát phiếu lấy ý kiến hộ gia đình.
- Người được đa số đại diện hộ gia đình đồng ý theo quy định thì được đề nghị công nhận.
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, đặc khu ra quyết định công nhận hoà giải viên.
- Tổ hoà giải có tổ trưởng, được bầu trong số các hoà giải viên của tổ; tổ có từ ba hoà giải viên trở lên, trong đó có hoà giải viên nữ.
- Sau khi được công nhận, hoà giải viên được tham gia tập huấn về pháp luật và kỹ năng hoà giải do cơ quan tư pháp và các tổ chức liên quan tổ chức.
Số lượng hoà giải viên, cách tổ chức bầu cụ thể ở từng nơi có thể khác nhau theo hướng dẫn của địa phương. Khi có hoà giải viên mới, danh sách tổ thường được thông báo trong cuộc họp thôn, tổ dân phố.
Quyền và nghĩa vụ của hoà giải viên
Luật Hoà giải ở cơ sở 2013 quy định quyền và nghĩa vụ của hoà giải viên. Gom lại theo nhóm để dễ nhớ:
| Nhóm | Quyền | Nghĩa vụ |
|---|---|---|
| Tiến hành hoà giải | Được thực hiện hoà giải, được đề nghị người có uy tín, người hiểu biết pháp luật hỗ trợ | Tuân thủ nguyên tắc hoà giải, từ chối khi có quyền lợi liên quan hoặc không bảo đảm khách quan |
| Đào tạo, tài liệu | Được bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật và kỹ năng hoà giải, được cung cấp tài liệu | Tự học thêm, cập nhật quy định mới trong những việc hay gặp |
| Thù lao, hỗ trợ | Được hưởng thù lao theo vụ việc, được hỗ trợ khi gặp tai nạn, rủi ro trong lúc hoà giải theo quy định | Không nhận tiền, quà của các bên |
| Khen thưởng | Được khen thưởng khi có thành tích | Báo cáo, ghi sổ theo dõi hoạt động hoà giải |
| Bí mật | Được tôn trọng khi hoà giải | Giữ bí mật thông tin đời tư của các bên |
Mức thù lao, mức hỗ trợ cụ thể do văn bản hướng dẫn và địa phương quy định, thay đổi theo thời kỳ; bài không nêu con số. Điều quan trọng là các bên không trả tiền cho hoà giải viên; mọi khoản hỗ trợ đến từ nguồn kinh phí theo quy định.
Những kỹ năng làm nên một hoà giải viên giỏi
Nghe trước, nói sau. Ở lần gặp riêng đầu tiên, hoà giải viên giỏi nói rất ít. Họ hỏi những câu mở như chuyện bắt đầu thế nào, điều gì làm bác lo nhất, rồi để người kia nói hết. Người được nghe đủ thì mới sẵn sàng nghe lại.
Tách người khỏi vấn đề. Thay vì bàn ai xấu ai tốt, hoà giải viên đưa câu chuyện về vấn đề cụ thể: bức tường, khoản tiền, giờ giấc. Vấn đề cụ thể thì có cách gỡ; nhận xét về con người thì chỉ có cãi nhau.
Tìm lợi ích đằng sau yêu cầu. Một bên đòi phá tường có khi chỉ muốn đủ chỗ dắt xe; một bên không chịu trả nợ có khi đang sợ mất mặt. Hiểu được lợi ích thật thì có nhiều phương án hơn hai lựa chọn có hoặc không.
Giải thích pháp luật đúng mức. Nói vừa đủ để các bên biết nếu ra toà thì đại khái sẽ thế nào, không doạ, không hứa. Chưa chắc thì hẹn tra cứu hoặc hỏi công chức tư pháp, thay vì đoán.
Biết khi nào phải dừng. Khi phát hiện có bạo lực, có dấu hiệu tội phạm, có lợi ích công cộng, hoà giải viên dừng lại và hướng dẫn các bên sang cơ quan có thẩm quyền.
Những điều hoà giải viên không được làm
Luật Hoà giải ở cơ sở 2013 nêu rõ những hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động hoà giải, mà người làm hoà giải viên cần thuộc lòng. Đó là ép buộc các bên hoà giải hoặc ép buộc chấp nhận kết quả; lợi dụng hoà giải để ngăn cản các bên bảo vệ quyền lợi của mình theo pháp luật hoặc để trốn tránh việc xử lý vi phạm; tiết lộ thông tin đời tư của các bên khi họ không đồng ý; nhận tiền, tài sản, lợi ích khác từ các bên; vi phạm nguyên tắc hoà giải nói chung.
Trong thực tế, những vi phạm hay gặp nhất lại rất nhỏ: buột miệng kể chuyện của một nhà trong một đám giỗ, nhận gói chè hay chai rượu "cảm ơn", nói với một bên "thôi chịu đi cho xong, kiện làm gì", hoặc khuyên người bị đánh rút đơn. Mỗi việc đều đủ làm mất lòng tin của cả xóm vào tổ hoà giải.
Hoà giải viên vi phạm có thể bị xem xét cho thôi làm hoà giải viên. Bên cạnh đó, các trường hợp tự nguyện xin thôi, không còn đáp ứng tiêu chuẩn, hay chuyển đi nơi khác cũng dẫn tới việc thôi làm, theo quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, đặc khu.
Hoà giải viên mới: bắt đầu từ đâu
Người mới được công nhận thường lo nhất là thiếu kiến thức pháp luật. Thực ra, phần lớn vụ việc ở thôn, tổ dân phố xoay quanh một số nhóm quen thuộc: lối đi, ranh giới, nước thải, tiếng ồn, vay mượn, chuyện vợ chồng, chuyện anh em chia tài sản. Nắm chắc những quy định cơ bản của các nhóm này, cộng với tài liệu được phát khi tập huấn, là đủ để bắt đầu.
Cách học nhanh nhất là ngồi cùng một hoà giải viên lâu năm trong vài vụ đầu. Quan sát cách họ mở lời, cách họ để từng bên nói hết, cách họ chuyển từ chuyện cũ sang việc cụ thể. Sau mỗi vụ, tự ghi lại điều mình làm được và điều nên làm khác.
Một thói quen nên có từ đầu là ghi sổ theo dõi đầy đủ: ngày nhận vụ việc, ai đề nghị, đã gặp ai, kết quả, đã hướng dẫn các bên đi đâu nếu không thành. Sổ sách vừa giúp tổ hoà giải báo cáo, vừa bảo vệ chính hoà giải viên khi có người thắc mắc về cách mình đã làm.
Một ví dụ giả định: năm đầu làm hoà giải viên
Ví dụ giả định: chị Thảo, giáo viên tiểu học đã nghỉ hưu ở một tổ dân phố tại Thái Nguyên, được trưởng ban công tác Mặt trận giới thiệu và được bầu làm hoà giải viên. Vụ đầu tiên của chị là hai nhà cãi nhau vì nước mưa từ mái nhà này chảy sang sân nhà kia. Chị lúng túng vì cả hai đều là phụ huynh học sinh cũ của mình, rồi chủ động nói rõ điều đó trước hai bên và hỏi họ có đồng ý không. Cả hai đồng ý.
Chị gặp riêng từng nhà, sang xem mái, đề nghị một hoà giải viên nam có kinh nghiệm xây dựng ngồi cùng. Hai nhà chốt lắp máng xối, chia đôi tiền vật liệu. Chị ghi vào sổ theo dõi, một tháng sau ghé xem máng đã lắp chưa.
Đến cuối năm, chị tham gia một khoá tập huấn của phường, học thêm về pháp luật đất đai và hôn nhân gia đình. Chị nhận ra phần khó nhất không phải là thuộc luật, mà là giữ được bình tĩnh khi hai bên to tiếng và giữ được miệng khi người quen hỏi chuyện nhà người khác. Đó cũng là hai điều mà các bên trong xóm nhớ về một hoà giải viên lâu nhất.
Câu hỏi thường gặp
Làm hoà giải viên có phải là cán bộ, công chức không?
Không. Hoà giải viên là người dân trong cộng đồng được bầu và công nhận, làm việc theo tinh thần tự nguyện. Họ không hưởng lương như công chức, nhưng có thể được hỗ trợ thù lao theo vụ việc theo quy định.
Người tạm trú có làm hoà giải viên được không?
Theo Luật Hoà giải ở cơ sở 2013, hoà giải viên phải là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở. Người chỉ tạm trú thường chưa đáp ứng tiêu chuẩn này, dù vẫn có thể giúp hoà giải viên khi được mời.
Làm hoà giải viên có cần bằng cấp luật không?
Không cần. Luật yêu cầu có hiểu biết pháp luật, không yêu cầu bằng cấp. Sau khi được công nhận, hoà giải viên được bồi dưỡng, tập huấn về pháp luật và kỹ năng hoà giải.
Hoà giải viên có được từ chối một vụ việc không?
Hoà giải viên phải từ chối khi bản thân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc có lý do khác khiến không bảo đảm khách quan, công bằng. Ngoài ra, khi bận việc hay thấy mình không phù hợp, nên báo sớm với tổ trưởng để phân công người khác, tránh để các bên chờ lâu.
Hoà giải viên bị một bên đe doạ thì làm gì?
Dừng buổi hoà giải, báo ngay tổ trưởng tổ hoà giải, trưởng thôn hoặc công an xã, phường. Luật có quy định hỗ trợ hoà giải viên khi gặp tai nạn, rủi ro về tính mạng, sức khoẻ trong lúc thực hiện hoạt động hoà giải.
Một người vừa là trưởng thôn vừa là hoà giải viên có được không?
Thực tế nhiều nơi trưởng thôn, tổ trưởng dân phố cũng là thành viên tổ hoà giải. Điều cần lưu ý là phân biệt vai: khi hoà giải thì không dùng quyền điều hành của trưởng thôn để gây sức ép lên các bên.